Thứ hai, 24/01/2022

Những “ông lớn” ngành dược nào bắt tay sản xuất thuốc điều trị Covid-19 Molnupiravir “Made in Vietnam”? (Kỳ 1)

Thứ tư, 15/12/2021, 11:07 (GMT + 7) Theo dõi ATYT trên

Stellapharm - đơn vị đầu tiên sản xuất thuốc điều trị Covid-19 Molnupiravir trong nước, đã từng gửi đơn tố cáo lãnh đạo Bộ Y tế và bị khởi tố hình sự.

Molnupiravir – thuốc điều trị Covid-19 dạng uống đầu tiên đã được sản xuất tại Việt Nam

Khi vaccine chỉ là biện pháp giúp giảm nhẹ triệu chứng Covid-19 và cũng đang đối mặt nhiều thách thức về nguồn cung, độ hiệu quả trước các biến chủng mới, thì thuốc điều trị trở thành niềm hy vọng mới của nhân loại trong cuộc chiến chống Covid-19. Song song với việc sản xuất vaccine, nhiều hãng dược trên thế giới bắt tay vào điều chế và thí nghiệm lâm sàng thuốc điều trị Covid-19, hứa hẹn sẽ trở thành “vũ khí” đắc lực nhằm chống lại căn bệnh khủng khiếp đã gây ra cái chết cho hơn 5,1 triệu người trên toàn cầu.

Tại Việt Nam, có 3 loại thuốc đã được Bộ Y tế cho phép sử dụng điều trị bệnh nhân Covid-19 và được đưa vào hướng dẫn gồm: Remdesivir dùng cho bệnh nhân có triệu chứng trung bình, nặng; Favipiravir dùng cho bệnh nhân không triệu chứng, triệu chứng nhẹ trung bình và Monulpiravir dùng cho bệnh nhân mức độ nhẹ với lưu ý liều dùng theo đề cương thử nghiệm lâm sàng đã được phê duyệt. Trong đó, thuốc Molnupiravir là dạng thuốc viên được thí điểm phát điều trị tại nhà cho các F0 cộng đồng có triệu chứng nhẹ tại TP.HCM.

nhung-ong-lon-nganh-duoc-nao-dung-sau-thuoc-dieu-tri-covid-19-molnupiravir-made-in-vietnam-ky-1-2
Molnupiravir được chỉ định trong túi thuốc điều trị Covid-19 tại nhà cho người dân.

Molnupiravir là thuốc kháng virus do hãng được Merck & Co (Mỹ) và công ty Ridgeback (Đức) nghiên cứu phát triển. Hồi đầu tháng 11/2021, Molnupiravir được cơ quan y tế của Anh khuyến nghị sử dụng trong điều trị Covid-19 đối với bệnh nhân vừa và nặng. Động thái này đánh dấu sự cho phép đầu tiên trên thế giới đối với một loại thuốc kháng virus bằng đường uống được sử dụng để điều trị Covid-19 ở người lớn. Theo báo cáo các cuộc thử nghiệm lâm sàng, thuốc Molnupiravir có tên thương mại là Lagevrio, giảm khoảng 50% nguy cơ tử vong hoặc nhập viện ở các bệnh nhân Covid-19. Cơ quan quản lý Dược phẩm châu Âu (EMA) ngày 16/11 vừa qua cũng đã phê duyệt việc sử dụng khẩn cấp trong lãnh thổ EU viên thuốc điều trị Covid-19 Molnupiravir, dù loại thuốc này hiện chưa nhận được ủy quyền đầy đủ để bán trên thị trường.

Về hiệu quả của Molnupiravir trên bệnh nhân Covid-19 tại Việt Nam, Cục Khoa học công nghệ - Đào tạo (Bộ Y tế) cho biết, từ cuối tháng 8/2021, Bộ Y tế đã triển khai chương trình thí điểm điều trị có kiểm soát thuốc Molnupiravir cho các trường hợp mắc Covid-19 thể nhẹ và không triệu chứng tại nhà. TP.HCM là địa phương đầu tiên triển khai chương trình này, đến nay chương trình đã mở rộng đến 34 tỉnh, thành. Bộ Y tế đã cấp 110.000 liều (gồm 50.000 liều Molnupiravir 400 mg Stella VN và 60.000 liều Molnupiravir 200 mg Optimus do Ấn Độ sản xuất) cho các địa phương, trong đó 5.000 liều được Bộ Y tế cấp bổ sung cho TP.HCM.

Kết quả triển khai tại 22 tỉnh, thành cho thấy, Molnupiravir có tính an toàn, dung nạp tốt, hiệu quả rõ rệt về giảm tải lượng vi rút, giảm lây lan, giảm chuyển nặng, rút ngắn thời gian điều trị; tỷ lệ bệnh nhân có kết quả xét nghiệm RT-PCR sau 14 ngày âm tính hoặc dương tính với tải lượng vi rút thấp đạt gần 100%; tỷ lệ chuyển nặng rất thấp từ 0,02 - 0,06% và không có ca nào dẫn đến tử vong.

Trước yêu cầu và diễn biến của tình hình dịch bệnh, Việt Nam một mặt nhanh chóng tìm kiếm nguồn cung thuốc điều trị Covid-19 ở nước ngoài, một mặt thúc đẩy và tạo điều kiện cho chuyển giao công nghệ, nghiên cứu và tiến tới tự sản xuất trong nước. Đối với thuốc Molnupiravir, tính đến thời điểm này, Bộ Y tế đã cấp phép cho 39 doanh nghiệp nhập nguyên liệu và chủ động về loại thuốc kháng virus này.

Mới đây, theo công bố của Bộ Y tế, có 6 doanh nghiệp trong nước nộp hồ sơ đăng ký thuốc điều trị Covid-19 Molnupiravir. Bộ cũng cho biết đang kiến nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ xem xét, cho cơ chế cấp giấy lưu hành sản phẩm trong tình huống dịch khẩn cấp, nhằm tháo gỡ các vướng mắc do quy định tại Điều 56, Điều 87 (khoản 1) và Điều 89 (khoản 1, điểm b khoản 3) của Luật Dược. Như vậy các nhà máy trong nước có thể sớm tiến hành sản xuất, chủ động được nhu cầu thuốc Molnupiravir trong nước.

Stellapharm – Cái tên đầu tiên được xướng lên trong cuộc đua điều chế Molnupiravir tại Việt Nam

Hiện vẫn chưa có thông tin chính thức và đầy đủ về các doanh nghiệp sản xuất thuốc điều trị Molnupiravir, tuy nhiên đã manh nha xuất hiện một số cái tên sáng giá trên thị trường sản xuất dược trong nước có liên quan.

Hồi cuối tháng 11, báo chí trong nước đồng loạt đưa tin về “3 công ty dược có kế hoạch và đang triển khai sản xuất thuốc kháng virus Molnupiravir”, trong đó có nhắc tới Công ty TNHH Liên doanh Stellapharm là đơn vị đã được cấp phép thử nghiệm lâm sàng thuốc điều trị Molnupiravir.

nhung-ong-lon-nganh-duoc-nao-dung-sau-thuoc-dieu-tri-covid-19-molnupiravir-made-in-vietnam-ky-1-1
Stellapharm là đơn vị đi đầu trong sản xuất thuốc điều trị Covid-19 Molnupiravir trong nước. (Ảnh: Stellapharm)

Hồi cuối tháng 9/2021, trong một buổi làm việc của lãnh đạo tỉnh Bình Dương tại Công ty TNHH Liên doanh Stellpharm – Chi nhánh I (khu công nghiệp Việt Nam – Singapore I, TP. Thuận An, tỉnh Bình Dương), đại diện công ty bà Nguyễn Ngọc Liễu – Phó Tổng Giám đốc cho biết, Stellapharm đang phối hợp với Công ty sản xuất dược phẩm Optimus (Ấn Độ) để chuyển giao công nghệ và nguyên liệu sản xuất thuốc đặc trị chống Covid-19 Molnupiravir. Hiện quy trình sản xuất và nghiên cứu Molnupiravir đã đi vào giai đoạn hoàn thiện và bước đầu qua giai đoạn thử nghiệm lâm sàng tại Bệnh viện Thống Nhất (TP.HCM). Dự kiến, thuốc cũng sẽ được mở rộng thử nghiệm lâm sàng ở Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch (TP.HCM).

Công ty này cũng cho biết thêm, sau khi có kết quả thử nghiệm lâm sàng, công ty sẽ gửi công văn kiến nghị Bộ Y tế cho phép mở rộng thử nghiệm lâm sàng trên diện rộng đối với khoảng 30.000 bệnh nhân Covid-19.

Trước đó, hồi cuối tháng 8/2021, Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thanh Long cũng cho biết sản phẩm viên nang Molnupiravir 400mg đang được Stellpharm Việt Nam sản xuất, và sẽ cung cấp hơn 2,3 triệu viên để điều trị miễn phí cho 116.000 F0 tại cộng đồng ở TP.HCM (do Stellapharm tài trợ).

Theo thông tin đăng ký doanh nghiệp, Công ty TNHH Stellapharm (mã số thuế: 0302737671) có trụ sở tại K63/1 Nguyễn Thị Sóc, ấp Mỹ Hòa 2, xã Xuấn Thới Đông, huyện Hóc Môn, TP.HCM.

Người đại diện pháp luật của Stellpharm hiện nay là ông Ông Văn Dũng. Ông Dũng cũng là người đại diện pháp luật của các doanh nghiệp: Công ty TNHH Thương mại Dược phẩm M.S.T, Chi nhánh Công ty TNHH Thương mại Dược phẩm M.S.T, Công ty TNHH Thương mại Dược phẩm M.S.T – Chi nhánh Bình Dương, Công ty TNHH Liên doanh Stellapharm – Chi nhánh 1.

nhung-ong-lon-nganh-duoc-nao-dung-sau-thuoc-dieu-tri-covid-19-molnupiravir-made-in-vietnam-ky-1-4
Dược sĩ Ông Văn Dũng (thứ 3 từ phải sang) là người đại diện pháp luật của Stellapharm hiện nay. (Ảnh: Stellapharm)

Giới thiệu trên trang chủ của mình, Công ty TNHH liên doanh Stellapharm tiền thân là Công ty TNHH Thương mại Dược phẩm M.S.T – nhà máy sản xuất dược phẩm tư nhân đạt tiêu chuẩn GMP Châu Âu (EU-GMP) đầu tiên tại Việt Nam từ sau năm 1975. Đến năm 2002, M.S.T hình thành liên doanh 50-50 với tập đoàn STADA Arzneimittel AG (CHLB Đức), trở thành công ty Dược phẩm Liên doanh đầu tiên tại thời điểm đó và lấy tên Công ty TNHH Liên doanh STADA – Việt Nam.

Hãng dược phẩm STADA Arzneimittel AG được thành lập từ một nhóm các dược sĩ vào năm 1895 tại Đức. Đây là một tập đoàn dược hùng mạnh ở châu Âu với các nhà máy sản xuất dược phẩm khắt khe bậc nhất. Năm 2020, STADA có kết quả kinh doanh ấn tượng với các thương vụ mua lại thông minh, giúp tập đoàn này vươn lên vị trí thứ 5 trên thị trường chăm sóc sức khỏe châu Âu và vị trí thứ 4 trên thị trường thuốc generics của châu lục. Các loại thuốc chăm sóc sức khỏe và thuốc đặc trị là những sản phẩm chủ lực của STADA, chiếm khoảng một nửa doanh số bán hàng của tập đoàn với tổng trị giá 3,01 tỷ euro năm 2020. Hiện STADA đang là cổ đông chiến lược của hãng dược Pymepharco tại Việt Nam.

Năm 2019, Công ty TNHH Liên doanh STADA – Việt Nam tiến hành đổi tên thành Công ty TNHH Liên doanh Stellapharm, với vốn điều lệ đăng ký là 954.000.000.000 đồng, tương đương 45.000.000 đô la Mỹ. Trong đó, Công ty TNHH Thương mại Dược phẩm M.S.T góp 477.000.000.000 đồng (tương đương 22.500.000 đô la Mỹ); Công ty STADA Pharmaceuticals (Asia) Ltd. (là Công ty con của Tập đoàn STADA Arzneimittel AG có trụ sở tại CHLB Đức góp 477.000.000.000 đồng (tương đương 22.500.000 đô la Mỹ).

Được biết, việc đổi tên có liên quan đến việc thay đổi thành phần cổ đông trong công ty. Cụ thể, vào ngày 20/12/2019, Công ty TNHH Thương mại Dược phẩm M.S.T và Auxilto Healthcare International Private Limited mua lại 42% và 8% phần vốn góp của STADA Pharmaceutical (Asia) Ltd. Với sự kiện này, Công ty TNHH Thương mại Dược phẩm M.S.T nắm giữ 92% phần vốn góp và Auxilto Healthcare International Private Limited nắm giữ 8% phần vốn góp trong Liên doanh Stellapharm. Như vậy, lần đầu tiên có một công ty dược phẩm tại Việt Nam mua lại thành công phần vốn góp của nước ngoài.

Ngành nghề kinh doanh của Stellapharm gồm: Sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm chữa bệnh cho người do Công ty sản xuất Việt Nam đạt tiểu chuẩn GMP quốc tế; Sản xuất các loại thực phẩm chức năng. Đặc biệt, Stellapharm là một trong những đơn vị có năng lực sản xuất thuốc kháng virus tại Việt Nam và một số loại thuốc kê đơn, không kê đơn đặc biệt trong điều trị các bệnh liên quan đến tim mạch, tiểu đường, v.v… Sản phẩm của công ty hiện đang được sử dụng bởi hàng triệu bệnh nhân tại hơn 50 nước trên thế giới.

Hiện nay tại Việt Nam, đối với việc sản xuất và nhập khẩu thuốc điều trị Covid-19, hầu hết nguồn cung đều được kiểm soát chặt chẽ bởi các công ty nhà nước. Stellapharm được coi là một trong những đơn vị tư nhân hiếm hoi đầu tiên được cấp phép nhập khẩu nguyên liệu và sản xuất Molnupiravir với quy mô lớn trong nước. Các nhà máy của Stellapharm Việt Nam cũng đã tham gia sản xuất và xuất khẩu số lượng lớn dược phẩm cho các đối tác châu Âu trong suốt giai đoạn đại dịch Covid-19 vừa qua.

Không ít lần “sóng gió” với cơ quan nhà nước

Stellapharm hay STADA Việt Nam trong quá khứ từng trải qua một vài sự kiện “sóng gió”, trong đó đình đám nhất là việc gửi đơn tố cáo Cục trưởng Cục Quản lý dược (Bộ Y tế) và bị khởi tố hình sự để điều tra sai phạm.

Tháng 9/2011, một sự kiện được cho là gây “chấn động” ngành y tế Việt Nam xảy ra, được nhiều cơ quan báo chí phản ánh. Theo đó, 8 doanh nghiệp sản xuất dược phẩm ở phía Nam đã cùng ký đơn tố cáo Cục trưởng Cục Quản lý dược Trương Quốc Cường. 8 doanh nghiệp này bao gồm STADA Việt Nam cùng với các đơn vị: Công ty Imexpharm, Công ty Agimexpharm, Công ty S.Pharm, Công ty Minh Hải, Công ty Tipharco, Công ty Pymepharco và Công ty Dược phẩm Khánh Hòa. Sự việc gây chú ý lớn thời điểm đó vì chưa từng có tiền lệ, và cũng hiếm khi thấy doanh nghiệp lên tiếng tố cáo cơ quan quản lý nhà nước.

nhung-ong-lon-nganh-duoc-nao-dung-sau-thuoc-dieu-tri-covid-19-molnupiravir-made-in-vietnam-ky-1-3
Đơn tố cáo ông Trương Quốc Cường gửi các cơ quan thẩm quyền của 8 công ty kinh doanh dược phẩm vào năm 2011. (Ảnh: T.T.D/Tuổi Trẻ).

Trong đơn tố cáo, các doanh nghiệp trên dẫn chứng việc ông Cường đã ký rất nhiều đơn hàng không có số đăng ký cho một số công ty không đúng nguyên tắc và ngăn chặn không duyệt đơn hàng cho các công ty khác.

Các doanh nghiệp này còn “tố” rằng ông Cường đã ưu tiên cho các công ty “sân sau” trong cấp hạn ngạch nhập khẩu, cấp phép nhập chuyến, cấp số đăng ký lưu hành thuốc, cho phép sản xuất gia công. Ngoài ra, đơn thư còn nêu rõ việc ông Cường ưu ái cho Công ty CP dược phẩm BV Pharma nhập khẩu nhiều tấn tiền chất ma túy pseudoephedrine (PSE) để sản xuất thuốc cảm cúm.

Các doanh nghiệp còn phản ảnh ông Cường có nhiều biểu hiện làm sai quy định. Cụ thể, khi Bộ Y tế đã chỉ đạo Cục Quản lý dược ngưng ngay việc cấp số đăng ký, ngưng cho nhập khẩu, ngưng không cho nhập nguyên liệu, dừng sản xuất thuốc có chứa sabutramine gây nhiều phản ứng có hại để bảo vệ sức khỏe người dân theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới, nhưng ông Cường lại “làm sai quy định là cho phép các thuốc sản xuất trong nước và nhập khẩu có chứa sabutramine được lưu hành đến hết hạn dùng của thuốc”.

Doanh nghiệp dẫn chứng công văn ngày 8/6/2010 do ông Cường ký đã giúp các công ty Ấn Độ, Pakistan, Hàn Quốc, Bangladesh... tiếp tục bán hết các lô thuốc có chứa sabutramine. Ngoài ra, các doanh nghiệp này còn cho rằng ông Cường đã cấp nhiều số đăng ký nhập khẩu thuốc từ các nước lân cận, châu Á vào Việt Nam, trong khi phần lớn những thuốc này doanh nghiệp trong nước đã sản xuất được với chất lượng cao, giá thành rẻ.

Tuy nhiên, điều khiến dư luận bất ngờ nhất là sau khi gửi đơn tố cáo ông Trương Quốc Cường, các công ty nói trên từ chỗ là người đi kiến nghị, tố cáo bỗng trở thành… mục tiêu điều tra.

Cụ thể, vào tháng 9/2011, Bộ Y tế ký quyết định thành lập đoàn thanh tra cơ sở sản xuất, nhập khẩu, bán buôn thuốc. Sau đó, Thanh tra Chính phủ cũng vào cuộc kiểm tra các vấn đề liên quan đến thuốc gây nghiện, hướng tâm thần… đối với các công ty ký đơn kiến nghị.

Theo kết luận của Thanh tra Chính phủ, vào tháng 6/2011, Công ty TNHH Liên doanh STADA – Việt Nam xuất khẩu 210 chai thuốc Partamol siro (PSE 30 mg), 240 hộp (mỗi hộp 100 viên) Partamol-Codein (Codein phosphat 30 mg) sang Papua New Guinea, tương đương 0,0063 kg tiền chất Pseudoephedrine HCI (PSE) và 0,72 kg chất gây nghiện Codein không có giấy phép của Bộ Y tế. Cục Quản lý Dược Bộ Y tế (do ông Trương Quốc Cường làm Cục trưởng – nhân vật trước đó bị các công ty dược viết đơn tố cáo) đã xác định loại thuốc trên là thuốc gây nghiện ở dạng phối hợp. Đây là cơ sở để C47 ra quyết định khởi tố vụ án hình sự đối với STADA Việt Nam và một số hãng dược khác về hành vi “có dấu hiệu buôn lậu dược phẩm gây nghiện, hướng tâm thần, tiền chất qua biên giới và bán thuốc gây nghiện không đúng đối tượng”.

Nhiều đơn vị, cá nhân sau đó đã gửi đơn thư khiếu nại nêu quan điểm trái chiều với kết luận của Cục Quản lý Dược, trong đó có STADA Việt Nam, rằng các sản phẩm thuốc được sản xuất ra không phải thuốc gây nghiện. Cơ quan cảnh sát điều tra Bộ Công an sau đó buộc phải gửi công văn đề nghị Bộ Y tế thẩm định lại. Đến ngày 20/3/2011, Bộ Y tế bất ngờ kết luận rằng thuốc Paramol Codein không phải là thuốc gây nghiện, trái ngược với kết luận trước đó của Cục Quản lý dược. Điều này đồng nghĩa với việc công ty STADA Việt Nam không có hành vi vi phạm quy định về quản lý, sử dụng thuốc gây nghiện, nhưng vẫn có một số sai phạm hành chính thông thường.

Mặc dù được “rửa oan” và hủy bỏ quyết định khởi tố hình sự, nhưng STADA Việt Nam cho biết đơn vị này đã chịu rất nhiều thiệt hại về tài chính cũng như uy tín và hình ảnh, không chỉ ở Việt Nam mà còn tác động đến cả công ty mẹ ở Đức. Còn đối với lá đơn kiến nghị, tố cáo của doanh nghiệp trước đó đối với ông Trương Quốc Cường, Thanh tra Chính phủ kết luận nhiều nội dung “không có cơ sở, không đúng sự thật” và còn đề nghị Bộ Y tế có biện pháp xử lý đối với các doanh nghiệp tố cáo theo quy định của pháp luật.

Vụ việc trên không phải lần duy nhất STADA Việt Nam gặp “sóng gió” với cơ quan quản lý nhà nước. Chỉ trước đó một thời gian, STADA Việt Nam cũng dính phải một vụ “lùm xùm” khác. Cụ thể, STADA Việt Nam cùng với 3 doanh nghiệp khác là Pymerphaco, Imexpharm và dược Cửu Long là những đơn vị được lựa chọn trong số 10 đơn vị tham gia xét duyệt, đủ điều kiện tham gia sản xuất thuốc Tamiflu phòng chống cúm H5N1 giai đoạn 2005 – 2006. Ông Cao Minh Quang – Thứ trưởng Bộ Y tế, đồng thời là Chủ tịch Hội đồng thẩm định, bị cho rằng đã không công khai minh bạch kết quả chỉ định thầu và thiên vị. Các doanh nghiệp bị loại nói rằng họ không được thông báo lý do tại sao không được chọn, đồng thời lập luận rằng mình cũng có đầy đủ năng lực theo các tiêu chí đặt ra, thậm chí có mặt còn vượt trội hơn so với 4 đơn vị được Bộ Y tế lựa chọn. Liên quan đến vấn đề này, Thứ trưởng Bộ Y tế Cao Minh Quang sau đó đã bị xử lý kỷ luật.

Tuy nhiên, điều khiến cho STADA Việt Nam rơi vào rắc rối có liên quan đến việc nhập khẩu nguyên liệu sản xuất Tamiflu phòng cúm H5N1 từ nước ngoài. Trong quá trình mua nguyên liệu phục vụ việc sản xuất Tamiflu theo đặt hàng của Bộ Y tế giai đoạn 2005-2006, 3 công ty STADA Việt Nam, Imexpharm và Pymepharco) đã được nhận lại số tiền tổng cộng hơn 2,8 triệu đôla từ các nhà cung cấp nguyên liệu. Số tiền này bị nghi là tiền “hoa hồng” của các đơn vị nước ngoài cung cấp nguyên liệu sản xuất thuốc. Theo Thanh tra Chính phủ, các công ty này đã thực hiện sai quy định tại điều 1, quyết định ngày 24/11/2005 của Thủ tướng về kế hoạch dự trữ Tamiflu và sản xuất thuốc có hoạt chất Oseltamivir theo quy định hiện hành về quy chế đấu thầu. Do đó số tiền 2,8 triệu USD trên phải được hoàn trả cho ngân sách Nhà nước.

STADA Việt Nam đã “phản pháo” kết luận này và cho rằng họ không hề làm sai. Ông Ông Văn Dũng cho biết, số tiền 2,8 triệu USD là tiền bồi thường thiệt hại cho những hao hụt trong quá trình sản xuất. Việc sản lượng thực tế thấp hơn sản lượng ghi rõ trong thỏa thuận chuyển giao kỹ thuật giữa nhà cung cấp nguyên liệu với 3 doanh nghiệp, và các đơn vị cũng đã có báo cáo thuế rõ ràng. Các doanh nghiệp còn cho biết, trong vụ việc này, Bộ Y tế đã đẩy họ vào “thế bí” khi ấn định giá thuốc thấp hơn giá thành sản xuất. Vì đã trót đặt cọc mua nguyên liệu của các đối tác nước ngoài nên doanh nghiệp đành phải “cắn răng” chịu lỗ.

Trải qua nhiều "sóng gió" như vậy nhưng vẫn đứng vững và phát triển, hiện đang là một trong những đơn vị đầu tiên sản xuất thuốc điều trị Covid-19 Molnupiravir trong nước, Stellapharm cũng phần nào cho thấy tiềm lực mạnh mẽ về tài chính, công nghệ và pháp lý của mình tại thị trường dược trong nước.

Theo Sức khoẻ 24h Copy
antoanyte.vn