Thứ năm, 28/10/2021

GS.VS Phạm Song: Những cống hiến cho khoa học và chiến lược y tế

Thứ bảy, 14/08/2021, 07:00 (GMT + 7) Theo dõi ATYT trên

GS.VS Phạm Song là chuyên gia y học hàng đầu của nước ta, lại là người quản lý đầu ngành, suốt đời say mê nghiên cứu thực tiễn y học và chiến lược y tế.

Từ một bác sĩ chuyên khoa tim mạch trở thành một thầy thuốc giỏi

Giáo sư - Viện sĩ Phạm Song sinh ra trong một gia đình công chức nhưng có nhiều người làm nghề cứu nhân độ thế. Cả ông nội lẫn ông ngoại của ông đều là những thầy lang nổi tiếng ở vùng Hương Sơn, Hà Tĩnh. Lớn lên, ông tham gia phong trào sinh viên và được kết nạp vào Đảng khi mới 19 tuổi, rồi được cử lên chiến khu Việt Bắc học ngành y, niên khóa 1952-1956 của Đại học Y Hà Nội.

Chân dung GS.VS Phạm Song
Chân dung GS.VS Phạm Song

Chính trong thời gian còn “thụ giáo”, ông đã tình nguyện đi làm y sĩ cho bộ đội ta trong chiến dịch Điện Biên Phủ. Ông cũng là một trong những người tiếp nhận nhà thương Đồn Thủy năm 1954, nay là Bệnh viện Hữu nghị Việt - Xô. Sau khi tốt nghiệp bác sĩ loại giỏi chuyên ngành tim mạch năm 1956, ông đã tiếp tục vào làm việc tại đó cho tới khi ông được cử đi Rumanie nghiên cứu về truyền nhiễm!

Theo lời ông sau này kể lại, năm 1958, Bộ trưởng Y tế Phạm Ngọc Thạch cho gọi ông lên gặp tại trụ sở Bộ ở phố Phan Huy Chú. Trong buổi gặp ấy còn có Vụ trưởng Vụ Tổ chức Nguyễn Đức Thắng và Vụ trưởng Vụ Chữa bệnh Nguyễn Văn Tín. Vừa thấy ông, Bộ trưởng Phạm Ngọc Thạch đã hỏi ngay: “Trẻ quá có làm được việc không?”.

Và hai vị vụ trưởng cùng thưa: “Chúng tôi đã suy nghĩ và chọn cho anh một người xuất sắc, kể cả chuyên môn và kinh nghiệm quản lý”. Bộ trưởng Phạm Ngọc Thạch nói luôn: “Thế thì được, bệnh nhiễm trùng hiện nay là bệnh hàng đầu của nước ta. Tôi cần một cán bộ trẻ sang làm ngành này đáp ứng trước mắt và lâu dài. Anh nghĩ sao?”.

Và ông đã buộc phải thưa thật rằng, là bác sĩ tim mạch, ông đâu có được chuẩn bị  kiến thức về các môn vi khuẩn học hay virus học để làm về truyền nhiễm. Bộ trưởng Phạm Ngọc Thạch nói luôn: “Chưa học thì tôi cho anh đi học, có sao đâu!”.

Thế là chỉ một tháng sau, ông đã được chuyển sang Khoa Truyền nhiễm kiêm phụ trách công tác y vụ của bệnh viện. Và năm 1960, cũng chính Bộ trưởng Phạm Ngọc Thạch đã cho ông sang Rumanie một năm rưỡi để học về virus học tại Viện Quốc gia virus học và 6 tháng học về vi khuẩn tại viện Cantacuzino ở thủ đô Bucarest…

Rồi sau đó, ông còn được đi tu nghiệp ở Hà Lan về nhiễm trùng gan, rồi miễn dịch học 4 tháng tại Lausane, Thụy Sĩ. Trở về nước, ông được cử làm Chủ nhiệm Khoa Bệnh nhiễm trùng của Bệnh viện Hữu nghị Việt Xô trong suốt 18 năm (1966-1984). 

Ông là người đầu tiên thực hiện kỹ thuật soi ổ bụng và sinh thiết gan cũng như soi ruột già ống mềm tại bệnh viện phục vụ việc chữa bệnh cho cán bộ trung, cao cấp và lão thành cách mạng. Năm 1982, ông được đề bạt lên làm Giám đốc Bệnh viện Hữu nghị Việt Xô… 

Hai năm sau đó, ông được đề bạt lên làm Thứ trưởng Bộ Y tế. Mặc dù cương vị cao buộc phải gánh vác nhiều công việc quản lý nhưng GS.VS Phạm Song vẫn kiêm Chủ nhiệm Bộ môn Truyền nhiễm và đảm bảo trên 170 tiết giảng dạy mỗi năm tại Trường Đại học Y Hà Nội.

Ông cũng đảm nhận cương vị Viện trưởng sau khi thành lập Viện Y học lâm sàng các bệnh nhiệt đới. Năm 1988, ông được giao trọng trách Bộ trưởng Bộ Y tế và ở cương vị này tới năm 1992. Ông là trường hợp không được Ban chấp hành khóa trước giới thiệu nhưng vẫn trúng cử vào Ủy viên trung ương Đảng khóa VII…

GS.VS Phạm Song đã đảm nhận nhiều cương vị khác nhau trong các tổ chức xã hội gần gũi với nghề y của mình. Ông từng phụ trách Hội Dân số Kế hoạch hoá Gia đình Việt Nam, Tổng hội Y học Việt Nam, Hội Truyền nhiễm Việt Nam.  Đồng thời, ông vẫn làm chuyên gia tại Viện Lâm sàng các bệnh nhiệt đới, viết nhiều công trình nghiên cứu và truyền bá kiến thức y học…

Những cống hiến cho khoa học và chiến lược y tế

Những đóng góp về chuyên môn của GS. VS Phạm Song cho sự nghiệp y tế nước nhà rất to lớn. Chính ông là một trong những người có công hàng đầu trong việc đưa artemisinin được phân lập từ cây thanh hao hoa vàng vào điều trị sốt rét do Plasmodium falciparum kháng cloroquin.

Ngay từ năm 1990, Bộ Y tế đã có hướng dẫn kỹ thuật sử dụng artemisinin và các dẫn xuất sản xuất trong nước để điều trị sốt rét và sau đó 9 năm Tổ chức Y tế Thế giới  (WHO) đã công nhận chọn artemisinin là thuốc hàng đầu để điều trị sốt rét do Plasmodium falciparum kháng cloroquin.

Cũng nhờ thế mà nước ta hiện là quốc gia xuất khẩu artemisinin về dẫn xuất và cả nguyên liệu sang các nước châu Phi và châu Âu. Công trình này có rất nhiều đơn vị khoa học và hàng chục bác sĩ tham gia đã được giải thưởng khoa học công nghệ Hồ Chí Minh năm 2000.

GS.VS Phạm Song còn là đồng chủ biên với chuyên gia ngôn ngữ học, GS.TS Nguyễn Hữu Quỳnh cùng sự cộng tác của 120 GS, TS y học nhiều thế hệ để biên soạn 4 cuốn Bách khoa thư bệnh học, đã được tái bản không chỉ một lần. Ông cũng là tác giả của cuốn HIV/AIDS, do Nhà xuất bản Y học xuất bản năm 1993  sớm đưa ra những nhận xét xác đáng mang tính dự báo về căn bệnh thế kỷ này. Cũng chính ông đã đề nghị thành lập Ủy ban quốc gia phòng chống HIV/AIDS khi chưa có ca HIV dương tính nào ở Việt Nam... 

Ông đã đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình soạn thảo và thông qua Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân cũng như chiến lược bảo vệ sức khỏe nhân dân 1990-2000 dưới dạng chương trình mục tiêu quốc gia cấp Nhà nước và cấp Bộ, đánh dấu một bước biến đổi lớn trong đổi mới phương thức hành động theo khoa học y tế công cộng của nước ta.

GS.VS Phạm Song với các thành tựu của mình đã được tặng danh hiệu Thầy thuốc Nhân dân và Giải thưởng Hồ Chí Minh… Năm 2000, ông là Viện sĩ Viện hàm lâm Y học Liên bang Nga về hệ thống và biện chứng. Năm 2006, ông được Viện Tiểu sử Hoa Kỳ tặng danh hiệu Nhà khoa học tiêu biểu của năm do cống hiến trọn đời cho y học.

Theo VnMedia.vn Copy