Thứ năm, 05/08/2021

GS Tôn Thất Tùng: Một huyền thoại của nền Y học nước nhà

Thứ hai, 19/07/2021, 11:30 (GMT + 7)
GS Tôn Thất Tùng được nhân dân Việt Nam tôn vinh như một huyền thoại của nền Y học nước nhà. Suốt cuộc đời, ông luôn gắn bó với bệnh viện, bệnh nhân. Ông là bác sĩ nổi tiếng ở Việt Nam và thế giới trong lĩnh vực giải phẫu gan. Thành tựu cùng tài năng của ông không chỉ được giới Y học trong nước, mà các chuyên gia nước ngoài không ngớt lời ngợi khen.
Chân dung GS Tôn Thất Tùng. Ảnh tư liệu
Chân dung GS Tôn Thất Tùng. Ảnh tư liệu

Hành trình đến với nghề Y

GS Tôn Thất Tùng (1912-1982) sinh ra ở Thanh Hóa và lớn lên tại Huế. Tận mắt chứng kiến cảnh tượng quan lại nơi mình sinh sống, ông đã quyết không theo nghiệp học làm quan mà ra Hà Nội học ngành y tại Trường Y - Dược, ngôi trường thành viên của Đại học Đông Dương. Bởi lẽ theo GS Tôn Thất Tùng, nghề Y là một nghề "tự do", không phụ thuộc vào quan lại hay chính quyền thực dân.

GS. Tôn Thất Tùng giảng bài cho các sinh viên Y khoa tại Chiêm Hóa năm 1947
GS. Tôn Thất Tùng giảng bài cho các sinh viên Y khoa tại Chiêm Hóa năm 1947. Ảnh tư liệu

Dù vậy, cuộc sống học tập không diễn ra như ông mong muốn. Trong điều kiện học tập khó khăn, các thầy giáo Pháp chủ yếu chú trọng kiến thức sách vở, ít liên hệ tới điều kiện khí hậu và con người bản xứ, trang thiết bị thiếu thốn, lỗi thời. Bác sĩ bản xứ cũng không có cơ hội tham dự các kỳ thi nội trú vì chính phủ cầm quyền lo sợ họ có trình độ chuyên môn và tay nghề cao hơn sẽ lấn áp các bác sĩ của chính quốc. 

Tuy nhiên, những điều bất công đó không đủ mạnh mẽ để làm nhụt ý chí của cậu sinh viên Tôn Thất Tùng say mê với nghề. Trước sự bất bình này, vào năm 1938, GS Tôn Thất Tùng đã kiên quyết đấu tranh đòi chính quyền thực dân phải tổ chức cuộc thi nội trú cho các bệnh viện ở Hà Nội. Ông đã trở thành người duy nhất trúng tuyển một cách xuất sắc trong kỳ thi khóa nội trú đầu tiên của trường, được nhận vào làm việc tại khoa ngoại của trường Y - Dược, tức là bệnh viện Việt - Đức hiện nay.

Cũng trong khoảng thời gian này, từ năm 1935 đến 1939, qua học tập, trao đổi với các đồng nghiệp, đặc biệt là khả năng quan sát, suy luận, GS Tôn Thất Tùng đã phát hiện trong gan của một người bệnh có hàng chục con giun chui ở các đường mật. Với một dụng cụ thô sơ, chỉ bằng một con dao nạo, ông đã phẫu tích kỹ lưỡng cơ cấu của lá gan. Từ đấy, giáo sư đã phẫu tích trên 200 lá gan của các tử thi để nghiên cứu các mạch máu, vẽ lại thành các sơ đồ, đối chiếu chúng với nhau để tìm ra những nét chung. Trên cơ sở đó, ông đã viết và bảo vệ thành công luận án tốt nghiệp bác sĩ y khoa với nhan đề “Cách phân chia mạch máu của gan”. 

Với bản luận án này, GS Tôn Thất Tùng đã được tặng Huy chương Bạc của Trường Đại học Tổng hợp Paris (Trường Đại học Y - Dược tại Hà Nội lúc bấy giờ là một bộ phận). Bản luận án được đánh giá rất cao và trở thành tiền đề cho những công trình khoa học nổi tiếng của ông. 

Có thể thấy, tinh thần khẳng khái, không cam chịu trước bất công và tài năng của GS Tôn Thất Tùng đã được thể hiện từ khi còn rất trẻ. Cũng chính những điều ấy đã làm tiền đề để  khi trưởng thành, giáo sư có thể không ngừng cống hiến, phát triển nền Y học Việt Nam.

Bác sĩ Tôn Thất Tùng - người dùng Y học để chữa lành nỗi đau chiến tranh

Cách mạng tháng Tám 1945 bùng nổ ở Hà Nội, cùng với anh em Việt Minh, GS Tôn Thất Tùng đã tham gia cướp chính quyền từ tay Thực dân Pháp. Sau khi chính quyền non trẻ của nhân dân ta đứng trước việc phải khẩn trương chuẩn bị cho kháng chiến, ông được giao nhiệm vụ tìm kiếm thuốc men và dụng cụ y tế mang dần lên chiến khu Việt Bắc. Ở đấy, điều kiện sống và làm việc cực kỳ khó khăn, thiếu thốn, lại phải thường xuyên di chuyển song ông cùng gia đình và đồng nghiệp đã vượt qua, tham gia hầu hết các chiến dịch như Sông Lô, Hoàng Hoa Thám rồi Điện Biên Phủ để cứu chữa thương binh và nhân dân địa phương. 

Trong khoảng thời gian này, GS Tôn Thất Tùng cũng được giao nhiệm vụ cùng GS Hồ Đắc Di xây dựng trường Đại học Y khoa kháng chiến tại làng Ải (huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang). Cuốn sách  “Viêm tụy cấp tính và phẫu thuật” – cuốn sách Y học đầu tiên của ông, cũng là cuốn sách Y học đầu tiên được xuất bản dưới chỉnh thể Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là kết quả của hàng nghìn ca phẫu thuật do ông và các đồng nghiệp tiến hành qua các chiến dịch.

Bên cạnh đó, giáo sư cũng tham gia tổ chức điều trị, phát triển ngành Y tế, đồng thời với việc nghiên cứu khoa học, đào tạo sinh viên, xây dựng nền tảng trường Y khoa Việt Nam. Ông đã cùng với các giảng viên và sinh viên dựng lớp, dựng phòng thí nghiệm duy trì hoạt động của trường trong những điều kiện hết sức khắc nghiệt. Nhiều công trình nghiên cứu của giáo sư đã được thai nghén và tiến hành chính trong hoàn cảnh khó khăn đó, tiêu biểu là việc sản xuất Penicillin phục vụ thương bệnh binh trong điều kiện dã chiến.

Đến thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, chất độc da cam được rải xuống từ quân đội Mỹ đã làm cho khoảng 4,8 triệu người Việt Nam bị nhiễm chất độc dioxin, hàng trăm nghìn người trong số đó đã qua đời. Dù vậy, vào thời điểm đấy, không ai biết được sự nguy hại của chất diệt cỏ này. 

GS Tôn Thất Tùng trình bày kết quả nghiên cứu 836 người từ chiến trường miền Nam bị rải chất độc tại Bệnh viện Việt-Đức năm 1973.
GS Tôn Thất Tùng trình bày kết quả nghiên cứu 836 người từ chiến trường miền Nam bị rải chất độc tại Bệnh viện Việt-Đức năm 1973. Ảnh tư liệu

GS Tôn Thất Tùng trong những lần phẫu thuật cắt gan và điều trị ung thư gan, đã nhận thấy những đặc điểm dị biệt ở gan của các thương bệnh binh được chuyển từ chiến trường miền Nam ra Bắc điều trị. Ông đã nghiên cứu trên 836 người từ chiến trường miền Nam bị rải chất độc, từ đó phát hiện ảnh hưởng độc hại của chất dioxin tới thế hệ tương lai về các mặt: thần kinh học, phôi thai học, di truyền học và bệnh lý thần kinh. 

Với sự hỗ trợ trong việc phân tích các công thức hóa học và tác hại của dioxin từ GS Bửu Hội - một giáo sư Hóa học, dần dần những phát hiện này của GS Tôn Thất Tùng được chú ý, bàn luận nghiêm túc ở cả trong và ngoài nước. Điển hình như việc năm 1979 chính quyền Mỹ đã buộc phải chính thức đặt vấn đề nghiên cứu các tác hại của chất diệt cỏ đối với những cựu binh sĩ Mỹ đã tham chiến ở Việt Nam hay Hội thảo quốc tế về tác hại của các chất diệt cỏ đã diễn ra vào năm 1983 tại TP.HCM.

Có thể nói, GS Tôn Thất Tùng, bằng y học, đã góp phần chữa lành nỗi đau của thương binh, tạo dựng nền tảng cho ngành y Việt Nam khôi phục và phát triển sau những mất mát, thiệt hại do chiến tranh gây ra. Nói một cách khác, GS Tôn Thất Tùng đã dùng y học để chữa lành nỗi đau chiến tranh.

Xây dựng một nền y học Việt Nam hiện đại

Sau 80 năm bị thực dân Pháp đô hộ, đi kèm với 9 năm chiến tranh, Việt Nam đã không còn một bệnh viện nào. Số bác sĩ phẫu thuật thì ít ỏi, lại lạc hậu so với nền phẫu thuật thế giới. 

Trong hoàn cảnh đấy, các bác sĩ phẫu thuật miền Bắc, đặc biệt là GS Tôn Thất Tùng đã ra sức hoạt động nghiên cứu. Những tác phẩm khoa học mới nhất được gửi từ Liên Xô, Đức, Trung Quốc, Pháp, Anh, Mỹ sang Việt Nam, nhiều nhà phẫu thuật trứ danh được mời tới Hà Nội. Một số chuyên gia Việt Nam được cử đi học bổ túc ở Matxcơva, Berlin, Bucharest… GS Tôn Thất Tùng cũng đi nghiên cứu nhiều chuyến ở Đông Âu, Ấn Độ, Trung Quốc…

GS Tôn Thất Tùng vào những năm 1970. Ảnh tư liệu
GS Tôn Thất Tùng vào những năm 1970. Ảnh tư liệu

Từ năm 1954, ông làm Giám đốc bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, và giữ cương vị Chủ nhiệm Bộ môn Ngoại Đại học Y Dược Hà Nội. Ông đề cao việc tiếp thụ Y học phương Tây để xây dựng và phát triển nền Y học của Việt Nam, nghiên cứu bệnh tật và chữa trị cho người Việt Nam, đi đầu trong việc áp dụng các kỹ thuật phát triển ngành ngoại khoa Việt Nam.

Ngày 5/5/1958, GS Tôn Thất Tùng thực hiện thành công ca mổ tim đầu tiên. Năm 1960, Giáo sư là người đầu tiên đề xuất và áp dụng có kết quả xuất sắc việc mổ gan bằng phương pháp Việt Nam. Vốn dành nhiều sự quan tâm về gan ngay từ khi còn trẻ, biết được rõ các cơ mạch trong gan, giáo sư đã nghiên cứu thành công phương pháp “cắt gan có kế hoạch” - một phương pháp hoàn toàn mới và hiện đại, khác hẳn với những phương pháp trước đây.

Để ghi nhận công lao của người đầu tiên đã tìm ra phương pháp cắt gan này, người ta gọi đó là “Phương pháp mổ gan khô” hay “Phương pháp Tôn Thất Tùng”. Năm 1965 ca mổ tim bằng máy tim - phổi nhân tạo đã thành công như mong đợi. Ngoài ra, ông còn có công lao to lớn trong việc đào tạo một đội ngũ các thầy thuốc có y đức, giỏi chuyên môn, là tấm gương người thầy mẫu mực, trung thực, say mê khoa học, hết lòng yêu thương học trò…

Với tài năng và những cống hiến của mình, năm 1977, giáo sư được Viện Hàn lâm Phẫu thuật Paris tặng Huy chương phẫu thuật quốc tế mang tên Lannelongue. Ông cũng được trao tặng danh hiệu Anh hùng Lao động, hai lần Huân chương Lao động hạng Nhất, Huân chương chiến sĩ hạng Nhất, Huân chương kháng chiến hạng Ba và Huân chương Hồ Chí Minh. Năm 2002, nhân kỷ niệm 90 năm ngày sinh của giáo sư, Bộ Y tế đã thành lập hội đồng xét tặng giải thưởng về Y học mang tên ông - Giải thưởng Tôn Thất Tùng.

Ngày 7/5/1982 ông qua đời tại Hà Nội. Hơn ba thập kỷ đã trôi qua, nhưng vị bác sỹ huyền thoại vẫn sống mãi trong nền Y học Việt Nam và thế giới. Yêu quý nhà Y học huyền thoại này, không chỉ Huế và Hà Nội mà ở cả TP.HCM, Đà Nẵng hay Đồng Tháp đều có con đường mang tên Tôn Thất Tùng.

Kiều Diễm

Theo VnMedia.vn Copy