Thứ năm, 02/12/2021

BS Vương Thị Ngọc Lan : Người tạo nên những gia đình trọn vẹn

Thứ hai, 08/11/2021, 14:10 (GMT + 7) Theo dõi ATYT trên

BS Vương Thị Ngọc Lan là người đã đưa kỹ thuật nuôi trứng non chữa hiếm muộn về Việt Nam, tạo nên những gia đình trọn vẹn hơn.

bác sĩ Vương Thị Ngọc Lan, nay là phó giáo sư Trưởng Khoa Y, kiêm Trưởng Bộ môn Phụ sản, Đại học Y dược TP HCM.
BS Vương Thị Ngọc Lan, nay là phó giáo sư Trưởng Khoa Y, kiêm Trưởng Bộ môn Phụ sản, Đại học Y dược TP HCM.

Năm 2006, tại một bệnh viện Nhật Bản, BS Vương Thị Ngọc Lan vẫn cố gắng chấp nhận yêu cầu không sách vở, không ghi âm và học gấp rút trong 10 ngày để đưa kỹ thuật IVM về với Việt Nam. BS biết rằng kỹ thuật này sẽ giúp nhiều gia đình ở Việt Nam được sinh con, giúp các đôi vợ chồng hiếm muộn có cơ hội làm cha, làm mẹ và tạo nên những gia đình trọn vẹn hơn.

Nhờ kỹ thuật nuôi trứng trưởng thành trong ống nghiệm (IVM), 15 năm qua hàng nghìn em bé tại Việt Nam đã chào đời thành công. Trên những tạp chí y khoa hàng đầu thế giới đã công bố hàng chục bài báo quốc tế từ BS Lan và đồng nghiệp. Điều đó đã giúp thay đổi nhiều quan điểm trong giới điều trị vô sinh hiếm muộn và tạo nên tiếng vang lớn. Việt Nam ở khoảng thời gian năm 2017 là nước đã thực hiện thành công và nhiều nhất kỹ thuật IVM trên thới giới, các bác sĩ đến từ Australia, Italy, Mỹ, Singapore... đều đến để học.

BS Vương Thị Ngọc Lan, nay là phó giáo sư Trưởng Khoa Y, kiêm Trưởng Bộ môn Phụ sản, Đại học Y dược TP HCM, từ những trăn trở khi tiếp xúc với bệnh nhân hiêm muộn muốn nên BS đã đưa IVM về Việt Nam. Câu chuyện đưa IVM về Việt Nam của BS Lan đã bắt đầu từ những trăn trở ấy. Theo BS Lan, kỹ thuật hỗ trợ sinh sản ra đời sớm nhất là IVF (thụ tinh trong ống nghiệm. Bác sĩ dùng thuốc kích thích buồng trứng cho nang trứng lớn lên. Từ nang trứng đó, bác sĩ chọc hút lấy ra trứng đã trưởng thành, cho thụ tinh với tinh trùng, tạo thành phôi rồi đem phôi đặt lại vào tử cung người phụ nữ.

Ở Anh năm 1978, bằng kỹ thuật IVF đứa trẻ đầu tiên tên Louise Brown chào đời đã tạo nên một bước ngoặc lớn trong nền y học, mang đến cho các cặp vợ chồng hiếm muộn niềm hy vọng có con. Tại Việt Nam, năm 1988 nhờ phương pháp này, ba trẻ sơ sinh đầu tiên chào đời thành công. Giáo sư Nguyễn Thị Ngọc Phượng, nguyên Giám đốc Bệnh viện Từ Dũ, là người góp công mang thụ tinh trong ống nghiệm về Việt Nam, trong thời điểm y tế còn vô vàn khó khăn.

BS Lan là con gái giáo sư Phượng, tuổi thơ của bác sĩ gắn liền những tháng ngày theo mẹ đi làm, đi trực đêm, "ở bệnh viện nhiều hơn ở nhà". Mê công việc của mẹ, ngày nộp đơn thi đại học, BS Lan không chút đắn đo vì "nếu không thi ngành y thì không biết làm gì khác".

BS Vương Thị Ngọc Lan (phải) và mẹ, BS Nguyễn Thị Ngọc Phượng
BS Vương Thị Ngọc Lan (phải) và mẹ, BS Nguyễn Thị Ngọc Phượng. Ảnh Trần Tiến Dũng

Là một bác sĩ tận tâm với người bệnh

Khi kỹ thuật IVF còn non trẻ ở Việt Nam thì BS Lan đã có cơ hội tiếp cận kỹ thuật này trong ngành hỗ trợ sinh sản. Qua cơ hội ấy, BS Lan đã trải qua vô số lần được những người mẹ hiếm muộn đậu thai chia sẻ niềm vui tột cùng, sinh con thành công, nhưng song song đó là không ít đau lòng khi bệnh nhân tuyệt vọng đối diện với những giọt nước mắt trong những chu kỳ thai thất bại.

Với kỹ thuật IVF, người phụ nữ phải vào viện chích thuốc trong hai tuần với khoảng 30 mũi tiêm, sau đó siêu âm, lấy máu, chọc hút lấy trứng nuôi 3-5 ngày, đông lạnh phôi. Bệnh nhân sẽ quay lại uống thuốc khoảng hai tuần khi có kinh nguyệt, sau đó bác sĩ rã đông phôi và chuyển phôi vào tử cung. IVF không phù hợp tất cả bệnh nhân. BS Lan cho biết "những người buồng trứng đa nang, khi chích thuốc thì buồng trứng sẽ bị kích thích, phát triển quá nhiều nang trứng, gây khó chịu, bụng căng, khó thở, thậm chí nguy hiểm tính mạng". Có người bị quá kích, số trứng lấy được quá nhiều, làm thành 10-20 phôi, trong khi chỉ muốn có tối đa hai đứa con, thì chỉ cần 2 phôi thật tốt là đủ, số phôi dư ra nhiều không biết giải quyết thế nào. Ngược lại, có những người, khi tiêm thuốc vào, nang trứng vẫn không phát triển, do không đáp ứng với thuốc, không thể tiến hành thụ tinh trong ống nghiệm như bình thường được.

Với việc tiêm thuốc kích thích buồng trứng thì chi phí lại phân nửa kinh phia thụ tinh ồng nghiệm ở Việt Nam, khoảng hơn 40 triệu đồng. BS Lan đã từng chứng kiến nhiều bệnh nhân khi còn trẻ không đủ chi phí điều trị, đến khi vào viện thì đã quá tuổi, cơ hội có thai không còn nhiều. Ngoài ra, nhiều bệnh nhân sau điều trị ung thư không dám nghĩ đến chuyện có con. Bởi vì những người bị một số loại ung thư, nếu dùng thuốc kích thích buồng trứng sẽ tạo ra nhiều estrogen – loại nội tiết do nang trứng phát triển, khiến ung thư phát triển nhanh hơn.

Một số bệnh nhân ung thư khác, bác sĩ chỉ định bảo tồn khả năng sinh sản, tức trước khi phẫu thuật, hóa xạ trị sẽ lấy trứng để trữ đông lạnh làm thành phôi. Khi điều trị ung thư ổn, bác sĩ cho phép mang thai thì có thể rã đông trứng làm thụ tinh. "Với nhóm này, đôi khi thời gian cần rất gấp, bác sĩ ung bướu chỉ cho phép đợi vài ngày, trong khi tiêm thuốc kích thích buồng trứng phải tốn ít nhất hai tuần, do đó chỉ có thể hút các trứng từ các nang nhỏ sẵn có", BS Lan chia sẻ.

Với những lý do trên khiến BS Lan rất hào hứng khi đọc tài liệu về kỹ thuật IVM và nghe trình bày về kỹ thuật này tại các hội nghị khoa học quốc tế. Chính cha đẻ của phương pháp IVF, giáo sư Edwards cũng từng nhìn nhận kỹ thuật mình tìm ra vẫn có những hạn chế và đau đáu đi tìm giải pháp. Từ những năm thuộc thập niên 60,  giáo sư Edwards cũng đã từng bắt đầu các bước nghiên cứu về IVM nhưng không thành công. Từ sự phát triển kế thừa của các thế hệ nhà khoa học sau đó, năm 1991 tại Hàn Quốc ca IVM đầu tiên thế giới thành công. Sau đó, ở Australia, Mỹ, nhiều nước châu Âu, Nhật... thì kỹ thuật IVM được báo thành công.

Bệnh nhân sẽ không dùng thuốc kích thích buồng trứng, hoặc dùng thuốc rất ít khi sử dụng kỹ thuật IVM. bác sĩ sẽ lấy trứng non nhỏ li ti từ những nang trứng nhỏ, sau đó nuôi trưởng thành trứng non trong ống nghiệm, rồi cho thụ tinh với tinh trùng, tạo thành phôi như bình thường, thay vì để trứng trưởng thành trong cơ thể.

"Bệnh nhân thực hiện IVM chỉ cần chích thuốc hai ngày, thay vì hai đến bốn tuần như kỹ thuật IVF cổ điển, siêu âm một lần, không cần thử máu", BS Lan nói. Với kỹ thuật IVM này thì sẽ không tốn chi phí tiêm thuốc và bệnh nhân sẽ tránh nguy cơ quá kích buồng trứng. Các bệnh nhân ung thứ hay người cần rút ngắn thời gian điều trị thì IVM rất phù hợp.

Theo BS Lan, kỹ thuật này sau khi ra đời trải qua nhiều thăng trầm trên thế giới vì khó thực hiện hơn kỹ thuật IVF cổ điển. Trứng non có kích thước rất nhỏ, trong khi buồng trứng lại di động, đòi hỏi phải chọc hút khéo léo. Việc nuôi cấy trong ống nghiệm cũng khó thành công hơn, số phôi ít hơn so với thực hiện IVF. "Nếu bệnh nhân chuyển phôi lần đầu không thành công, đòi hỏi phải chuyển nhiều lần thì cần nhiều phôi", BS Lan nói.

Giới hỗ trợ sinh sản phải e dè khi chất lượng trứng sau nuôi cấy trong giai đoạn trước đây chưa được nghiên cứu cải thiện nhiều. Doanh số thuốc kích thích buồng trứng trên thế giới sẽ bị ảnh hưởng nếu kỹ thuật này thành công và phổ biến rộng rãi  nên các hãng dược không ủng hộ. Do đó, các công ty dược phẩm đã không ủng hộ và tài trợ cho các nghiên cứu, hội nghị khoa học về IVM. Rất ít bác sĩ hào hứng trong việc nghiên cứu phát triển kỹ thuật IVM bởi vì chịu sự tác động của các hãng thuốc. Điều này tác động đáng kể đến sự phát triển IVM. Những rào cản đó khiến rất ít trung tâm trên thế giới thực hiện kỹ thuật này.

BS Lan chứng kiến càng ngày nhiều bệnh nhân không phù hợp với chỉ định IVF, không đủ tiền tiêm thuốc, nên bác sĩ và đồng nghiệp là BS Đặng Quang Vinh, nhờ vào sự hỗ trợ của giáo sư Ngọc Phượng, liên hệ được một giáo sư Nhật Bản để sang theo học, năm 2006. Khi ấy, Nhật Bản và Hàn Quốc là hai nơi mà kỹ thuật IVM rất phát triển.

Bệnh viện ở Nhật Bản cho hai bác sĩ Việt Nam theo học với yêu cầu không sách vở, không ghi âm và học gấp rút trong 10 ngày và chỉ quan sát. Các bác sĩ Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn khi các đồng nghiệp người Nhật hạn chế trong giao tiếp tiếng Anh. BS Lan và đồng nghiệp của mình nhờ đã có kinh nghiệm làm IVF nhiều năm, nên cả hai các bác sĩ tiếp cận nhanh hơn. Hai bác sĩ phân công một người ghi nhớ các chi tiết liên quan lâm sàng, người tập trung các thao tác trong phòng lab. Mỗi ngày sau giờ ở bệnh viện, hai người về nhà cố ghi chép theo trí nhớ, lắp ghép thành bức tranh hoàn thiện.

Về nước, bác sĩ thực hiện trên một nữ bệnh nhân 29 tuổi, tên Minh. Chị bị buồng trứng đa nang, tinh trùng chồng yếu, muốn thực hiện kỹ thuật IVF nhưng chưa đủ tiền. Đây là chị gái của một sinh viên y khoa. Khi biết cô giáo là BS Lan đang triển khai kỹ thuật này, sinh viên đã động viên chị gái đến điều trị.

"Dù đã 10 năm kinh nghiệm làm IVF, nhưng khi thực hiện ca IVM đầu tiên, tôi căng thẳng đến mức ngủ còn nằm mơ chọc hút trứng", BS Lan nói. Kết quả, các bác sĩ chọc hút, nuôi trưởng thành trứng thành công, thụ tinh được bốn phôi. Lần chuyển phôi đầu, bệnh nhân đậu thai, sinh được một bé trai, một bé gái. Thành công ngày từ ca đầu tiên, với trường hợp song thai, như là một khởi đầu may mắn của kỹ thuật IVM ở Việt Nam.

BS Vương Thị Ngọc Lan là người đã đưa kỹ thuật thuật nuôi trứng non chữa hiếm muộn về Việt Nam
BS Vương Thị Ngọc Lan là người đã đưa kỹ thuật thuật nuôi trứng non chữa hiếm muộn về Việt Nam. Ảnh Bệnh viện Mỹ Đức

Nỗ lực hết mình cùng đồng nghiệp nghiên cứu, cải thiện kỹ thuật IVM

Nhóm cộng sự của BS Lan từ 2007 đến nay, đã thực hiện hơn 4.200 ca IVM. Tại hội nghị chuyên sâu về IVM của thế giới tổ chức tại Bỉ năm 2016, giáo sư Morimoto đã có một báo cáo tổng kết tình hình phát triển kỹ thuật IVM trên thế giới, trong đó, ghi nhận Việt Nam là một trong những nước thực hiện kỹ thuật IVM nhiều và thành công nhất trên thế giới.

Cho đến nay, nhóm nghiên cứu của Việt Nam đã có 12 bài báo công bố quốc tế về IVM, đặc biệt là về kỹ thuật IVM cải tiến, với tên gọi là CAPA-IVM. Các báo cáo công bố trên các tạp chí y khoa uy tín thế giới cho thấy tỷ lệ có thai sau chuyển phôi của kỹ thuật CAPA-IVM không kém hơn so với thụ tinh ống nghiệm cổ điển là IVF. CAPA là tên gọi của một bước cải tiến quan trọng trong hệ thống nuôi cấy, làm tăng chất lượng trứng, tăng tỷ lệ đậu thai, triển khai từ 2017. Kỹ thuật CAPA-IVM là kết quả của một công trình khoa học hợp tác giữa Việt Nam và Bỉ.

"Đây là nghiên cứu đầu tiên trên thế giới công bố về thành công của kỹ thuật CAPA-IVM, trước đây mọi người đều nghĩ tỷ lệ có thai của IVM thấp hơn IVF", BS Lan nói. Thên thực tế, IVM tạo được trung bình hơn bốn phôi, IVF có thể tạo được trên 6 phôi. Mỗi lần sử dụng, bác sĩ chỉ dùng hai phôi để đặt vào cổ tử cung, và tỷ lệ có thai tương đương giữa hai kỹ thuật với mỗi lần chuyển phôi. Các trẻ sinh ra từ IVM cũng có các chỉ số phát triển về tâm thần, vận động tương tự như các trẻ sinh ra từ kỹ thuật IVF cổ điển.

Sau khi nghiên cứu này được công bố, kỹ thuật IVM đã trở thành đề tài được bàn đến tại các hội nghị lớn trên thế giới từ năm 2020. Đầu năm 2021, Hội Y học sinh sản Mỹ công bố hướng dẫn lâm sàng về việc thực hiện kỹ thuật IVM. Hiện nay, đẻ có thể thực hiện được kỹ thuật IVM thì chỉ có các trung tâm IVF nhiều kinh nghiệm và hệ thống nuôi cấy phôi mạnh mới thực hiện được. Kỹ thuật này mang lại nhiều lợi ích cho người bệnh, nhưng đội ngũ nhân viên y tế phải đòi hỏi trình độ chuyên môn cao hơn và làm việc nhiều hơn. Chẳng hạn, lấy trứng với IVF chỉ cần 10 phút là xong, trong khi IVM thì chọc hút khó hơn, cần hơn 20 phút. Quá trình nuôi cấy trứng và phôi của kỹ thuật IVM cũng khó hơn, nhiều bước hơn và kéo dài hơn. "Nếu mình đặt bệnh nhân lên hàng đầu thì kỹ thuật IVM rất xứng đáng để làm bởi an toàn hơn cho bệnh nhân, thời gian điều trị của bệnh nhân ngắn hơn, chi phí giảm gần phân nửa ", BS Lan chia sẻ.

IVM hiện được chỉ định trên nhóm bệnh nhân hội chứng buồng trứng đa nang, bệnh nhân có số nang trên buồng trứng nhiều, người cần nhu cầu trữ trứng, bảo tồn khả năng sinh sản để điều trị ung thư, bệnh nhân đề kháng với thuốc kích thích buồng trứng, nhóm bệnh nhân trẻ tuổi có nhiều nang trứng... Nhược điểm của kỹ thuật này là khó thực hiện, số phôi tạo được ít. Nếu chuyển phôi thất bại nhiều lần, dùng hết phôi trữ thì phải thực hiện chọc hút lại từ đầu. BS Lan và đồng nghiệp đang nỗ lực cải thiện các quy trình, để ngày càng mở rộng chỉ định điều trị trên bệnh nhân bình thường khác. Rất nhiều trường hợp dùng IVF thất bại nhưng khi IVM lại thành công.

Đến nay, bác sĩ Lan và đồng nghiệp góp phần mang lại niềm vui có con cho hàng nghìn cặp vợ chồng vô sinh, hiếm muộn. Ảnh: Bệnh viện Mỹ Đức.
Đến nay, BS Lan và đồng nghiệp góp phần mang lại niềm vui có con cho hàng nghìn cặp vợ chồng vô sinh, hiếm muộn. Ảnh: Bệnh viện Mỹ Đức.

Ngoài việc đầu tư tìm hiểu IVM, BS Lan còn đầu tư tâm sức đi tìm lời giải cho rất nhiều vấn đề liên quan các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản khác. Đến nay, chị cùng cộng sự có hơn 50 công bố được đăng trên tạp chí quốc tế. "Từ lúc đi Singapore học năm 1997-1998, tiếp xúc với môi trường bên ngoài, tôi hiểu được nghiên cứu khoa học quan trọng thế nào, giúp ích rất lớn trong điều trị và phục vụ bệnh nhân", BS Lan nói.

BS Vương Thị Ngọc Lan là nhà khoa học nữ duy nhất có công trình nghiên cứu được trao tặng giải thưởng Tạ Quang Bửu năm 2020 và là bác sĩ đầu tiên ở Việt Nam nhận được giải thưởng khoa học cao quý này. Không những thế, năm 2017 trên tạp chí Forbes Việt Nam bình chọn chị là một trong 50 người phụ nữ có ảnh hưởng nhất. Chồng chị, BS Hồ Mạnh Tường, cũng là đồng nghiệp cùng lĩnh vực. Con gái lớn của hai người hiện là sinh viên y khoa năm thứ tư. Một trong ba bé thụ tinh ống nghiệm đầu tiên Việt Nam năm 1998 được đặt tên Phạm Tường Lan Thy, với chữ lót Tường - Lan, hiện du học và sắp tốt nghiệp đại học ở Nhật.

Hơn 7 năm qua với chương trình "Ươm mầm hạnh phúc", hai vợ chồng BS Lan cùng giáo sư Ngọc Phượng đã xây dựng và tổ chức thường niên, giúp điều trị miễn phí, mang đến niềm vui cho hàng trăm cặp vợ chồng hiếm muộn hoàn cảnh khó khăn.

Với nhiều câu hỏi về BS Lan như làm thế nào để thoát khỏi cái bóng của mẹ. BS Lan nói, "tôi tự nghĩ, mình có cái bóng mát che chở để phát triển tốt hơn, tại sao phải thoát khỏi nó. Điều quan trọng là từ bóng lớn đó, tôi cũng sẽ trở thành một cái bóng để góp phần giúp nhiều đàn em, học trò trưởng thành hơn trong nghề, phục vụ tốt hơn cho bệnh nhân".

Theo suckhoecongdongonline.vn Copy