Thứ bảy, 24/07/2021

Kiểm toán Nhà nước: Nhiều ngân hàng tăng tín dụng vượt “trần”

Thứ năm, 22/07/2021, 08:59 (GMT + 7)
Bảy ngân hàng, gồm 3 ngân hàng trong nước và 4 ngân hàng ngoại đã tăng trưởng tín dụng vượt mức tối đa cho phép năm 2019.

Mới đây, Kiểm toán Nhà nước (KTNN) đã công bố kết quả kiểm toán các hoạt động liên quan đến quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước năm 2019 của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam và một số tổ chức tài chính ngân hàng, bảo hiểm. Trong đó, chỉ ra nhiều tồn tại, hạn chế trong hoạt động tài chính, ngân hàng.

kip_thoi_tiep_von_nhanh_voi_lai_suat_chi_tu_65_nam
Ảnh minh họa (Nguồn: Vietnam+)

Vượt trần tín dụng cho phép

Theo KTNN, số dư nợ tăng trưởng vượt hạn mức tối đa là gần 26.000 tỷ đồng. Theo quy định, NHNN sẽ cấp hạn mức tín dụng cho từng ngân hàng hai lần mỗi năm. Sau khi đưa ra hạn mức tín dụng cho từng tổ chức tín dụng đầu năm, NHNN sẽ xem xét nơi “room” lần 2 vào nửa cuối năm dựa trên “sức khỏe” của từng ngân hàng, được thể hiện qua quy mô, xếp hạng chất lượng tài sản (cấp độ A, B, C) của mỗi tổ chức tín dụng.

Trong số các ngân hàng nội vượt hạn mức tín dụng được giao năm 2019 thì Ngân hàng Đại Chúng (PvcomBank) đứng đầu danh sách, với số tiền vượt là 13.656 tỷ đồng. Kế đến là Ngân hàng Sài Gòn vượt 8.654 tỷ đồng và Ngân hàng Bảo Việt vượt 3.153 tỷ đồng.

Trong danh sách này còn có 4 ngân hàng ngoại, như Ngân hàng Shinhan Bank vượt 132 tỷ đồng, Ngân hàng Mizuho chi nhánh TP HCM vượt 192 tỷ đồng, Ngân hàng Busan - chi nhánh TP HCM vượt 83 tỷ đồng, Ngân hàng Liên doanh Việt - Nga là 69 tỷ đồng.

Đầu tư tài chính không hiệu quả, hoặc hiệu quả thấp

KTTN cũng chỉ ra một số đơn vị đầu tư tài chính không hiệu quả hoặc hiệu quả thấp; hạch toán doanh thu, thu nhập, chi phí chưa phù hợp, chính xác.

Cụ thể là Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn (Agribank) có mức chia cổ tức, lợi nhuận chỉ bằng 1,17% vốn đầu tư. Nhiều khoản đầu tư của ngân hàng không hiệu quả, phải trích lập dự phòng 100% vốn đầu tư gồm 294 tỷ đồng vào Công ty TNHH MTV Cho thuê tài chính II (ALC II) đã phá sản; 172 tỷ đồng vào ALC I 8,2 tỷ đồng vào Công ty TNHH Liên doanh Quản lý Đầu tư Agribank – VGFM...

Trong năm 2019, 18/21 mã chứng khoán kinh doanh của Agribank phải trích lập dự phòng 86,25 tỷ đồng (tương ứng 33% vốn đầu tư); một số khoản đầu tư tài chính ngắn hạn phải trích lập dự phòng 100% vốn đầu tư (178,25 tỷ đồng tiền gửi tại ALC II; 68,4 tỷ đồng trái phiếu Vinashin; 8,76 tỷ đồng trái phiếu CTCP Sông Đà Thăng Long; 20 tỷ đồng trái phiếu CTCP Vận tải Biển Bắc).

Ngoài ra, Agribank còn phải chịu trách nhiệm về khoản tổn thất phải bồi thường cho Bảo hiểm xã hội Việt Nam số tiền trên 862,6 tỷ đồng theo phán quyết của Tòa án do ngân hàng này bảo lãnh cho ALC II. Hay khoản đầu tư gần 1.251 tỷ đồng của Agribank vào Công ty Chứng khoán Agribank, phải trích lập dự phòng 92,34 tỷ đồng. Đến 31/12/2019, Chứng khoán Agribank lỗ luỹ kế gần 361 tỷ đồng.

Hạch toán sai chi phí

KTNN chỉ ra một số ngân hàng hạch toán doanh thu, chi phí chưa chính xác. Đơn cử là “ông lớn” Vietcombank đã ghi nhận lãi dự thu không đúng quy định đối với các khoản nợ được cơ cấu lại 85,47 tỷ đồng; hạch toán thiếu 29,25 tỷ đồng phí bảo lãnh, phí phát hành L/C; hạch toán thừa lãi dự chi 19,07 tỷ đồng.

Còn Agribank, hạch toán thừa 114,7 tỷ đồng lãi dự thu. Tổng CTCP Bảo Minh hạch toán thiếu doanh thu 7,04 tỷ đồng đối với các hợp đồng bảo hiểm đã phát sinh trách nhiệm; chưa hạch toán thu đòi người thứ ba 55,21 tỷ đồng; trích lập dự phòng bồi thường bảo hiểm gốc và nhận tái bảo hiểm thừa 13,96 tỷ đồng.

Phân loại nợ, trích lập dự phòng chưa phù hợp

KTNN cũng chỉ ra một số ngân hàng phân loại nợ chưa phù hợp, trích lập dự phòng rủi ro tín dụng chưa chính xác.

Ngoại trừ các trường hợp năm 2020 các ngân hàng đã phân loại vào nhóm nợ cao hơn hoặc đã tất toán nợ vay nên KTNN không điều chỉnh nhóm nợ. Còn lại, dư nợ nhóm 1 của Agribank điều chỉnh giảm 1.128 tỷ đồng; tăng dư nợ nhóm 2 là hơn 823 tỷ đồng, nhóm 3 là 184 tỷ đồng, nhóm 4 là 19,9 tỷ đồng, nhóm 5 là hơn 100 tỷ đồng;

Tại Vietcombank, dư nợ nhóm 1 điều chỉnh tăng hơn 16,3 tỷ đồng, nhóm 2 là gần 418 tỷ đồng; giảm dư nợ nhóm 4 là 434 tỷ đồng.

Điều đó dẫn đến việc trích lập dự phòng rủi ro tín dụng không chính xác, tuy nhiên có nhiều khoản ngân hàng đã trích lập bổ sung đầy đủ hoặc đã tất toán nợ vay nên KTNN không điều chỉnh giảm chi phí dự phòng tại Vietcombank (khoảng 1.940 tỷ đồng) và tăng chi phí dự phòng tại Agribank (1.358 tỷ đồng). 

Ngoài ra, tại một số ngân hàng vẫn còn sai sót về trình tự, thủ tục cho vay, thẩm định thiếu chặt chẽ; định kỳ chưa đánh giá lại tài sản bảo đảm; giải ngân bằng tiền mặt không có hoặc thiếu chứng từ chứng minh mục đích sử dụng vốn vay; không kiểm soát, giám sát chặt chẽ việc sử dụng vốn vay...

Hoạt động mua bán nợ xấu tồn tại nhiều hạn chế

KTNN đánh giá, hoạt động mua bán nợ xấu theo giá thị trường của Công ty TNHH MTV Quản lý tài sản các tổ chức tín dụng Việt Nam còn hạn chế trong năm 2019.

Đối với Ngân hàng Chính sách xã hội, KTNN phát hiện ngân hàng đã xóa nợ 19,4 tỷ đồng cho nhiều khách hàng được coi là mất tích theo xác nhận của chính quyền cấp xã không phù hợp với quy định của Bộ Luật dân sự 2015, trong đó có 17 trường hợp vẫn đóng BHXH.

Ngân hàng Chính sách xã hội cũng đã điều chỉnh kế hoạch vốn chương trình cho vay hộ dân tộc thiểu số nghèo chưa kịp thời dẫn đến năm 2018, 2019 có 3.135 trường hợp không được vay lãi suất ưu đãi tương ứng tiền lãi ưu đãi 2,56 tỷ đồng. Vay vốn theo Chương trình cho vay hộ nghèo với lãi suất 6,6%/năm trong khi lãi suất ưu đãi Chương trình cho vay hộ dân tộc thiểu số nghèo là 3,3%/năm.

kiem-toan-nha-nuoc-nhieu-ngan-hang-tang-tin-dung-vuot-tran

Còn nhiều tồn tại và hạn chế, song KTNN vẫn đánh giá trong năm 2019, NHNN đã điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt. Điều này góp phần kiểm soát lạm phát bình quân ở mức 2,79%, ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, ổn định thị trường tiền tệ và ngoại hối; giảm lãi suất điều hành 2 lần.

Các ngân hàng, tổ chức tài chính, bảo hiểm được kiểm toán bảo đảm các chỉ tiêu an toàn, như tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu riêng lẻ và hợp nhất của VietcomBank lần lượt là 9,24% và 9,6%; Agribank là là 9,2% và 9,6% (quy định 9%). Tỷ lệ dự trữ thanh khoản của Agribank là 15,8% (quy định tối thiểu 10%), tỷ lệ khả năng chi trả 30 ngày đối với tiền đồng là 72,2% (quy định tối thiểu 50%)...

Ngoài ra, nhiều ngân hàng ghi nhận lãi lớn trong năm 2019, như Vietcombank lãi trước thuế hơn 23.211 tỷ đồng, Agribank là 13.896 tỷ đồng và Bảo Minh trên 254 tỷ.

TL

Theo VnMedia.vn Copy